English
Vietnammese
PHÒNG KHÁM TAI MŨI HỌNG THỦY TRẦN
Tiến sĩ Trần Lệ Thủy
Số 6 Phố Đỗ Quang, Hà Nội
Email: thuyent12@gmail.com
 

Phòng khám tai mũi họng Thủy Trần

VỀ CLINIC

Tiến sĩ Trần Lệ Thủy
Trưởng Clinic, CC: số 003246/CCHN, GP: Số 1096/GPHĐ
Nguyên trưởng khoa tai
Phó giám đốc Bệnh Viện Tai Mũi Họng Trung Ương
 
Số 6 phố Đỗ Quang, Q.Cầu Giấy, Hà Nội 
Email: thuyent12@gmail.com
ĐT: 024 35566124, DĐ: 0983680276
Website: https://xoang.vn, https://taimuihongthuytran.com
 
GIỜ LÀM VIỆC
Sáng: 8 giờ - 12 giờ
Chiều: 13 giờ - 16 giờ
Nghỉ: chủ nhật, ngày lễ, chiều thứ 5, chiều thứ 7


Bệnh nhân và thầy thuốc 
 
 
CLINIC TAI MŨI HỌNG THỦY TRẦN

Chào bạn,

Hy vọng trang web https://taimuihongthuytran.com sẽ cung cấp đến bạn đọc những thông tin thiết yếu nhất về các bệnh lý viêm mũi xoang mạn tính,những bệnh nhiễm khuẩn tai mũi họng tái diễn ở trẻ em [KHÔNG BAO GỒM XỬ LÝ CẤP CỨU] và những giải pháp kỹ thuật mới an toàn hiệu quả trong điều trị.Tuy nhiên, những bài viết này không phải là lời tư vấn cho mỗi người bệnh cụ thể. Để được điều trị đúng người bệnh nhất thiết cần trải qua quá trình thăm khám của chúng tôi để xác chẩn và chỉ dẫn chữa trị.

Bạn có thể tham khảo những tư liệu ngay dưới đây để hiểu thêm về công nghệ chúng tôi áp dụng chẩn trị bệnh của bạn và con bạn.

Chúc bạn và các con năm mới có một đường thở mới đẹp lành mạnh!

Hà Nội, tháng 1 năm 2020
Tiến sĩ Trần Lệ Thủy
 
 
LĨNH VỰC HOẠT ĐỘNG

Khám chữa các bệnh viêm mạn tính mũi xoang ở người lớn và nhiễm trùng tai-mũi- họng ở trẻ em.

THIẾT BỊ KỸ THUẬT & CƠ SỞ HẠ TẦNG

 

Hệ thống thiết bị & dụng cụ nội soi Sino-endoscopy của hãng Karl Storz - Cộng Hoà Liên Bang Đức. Trang thiết bị kỹ thuật chuyên khoa của hãng Medtronic Xomed - Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Diện tích sử dụng của Clinic là 300m2.


GIỚI THIỆU CÔNG NGHỆ ÁP DỤNG TẠI CLINIC

 






 

 

2017
 

COMMENTS CỦA BỆNH NHÂN





 

Tiến sĩ Trần Lệ Thủy

Trưởng Clinic, CC: số 003246/CCHN, GP: Số 1096/GPHĐ
Nguyên trưởng khoa tai
Phó giám đốc Bệnh Viện Tai Mũi Họng Trung Ương
 
Số 6 phố Đỗ Quang, Q.Cầu Giấy, Hà Nội 
Email: thuyent12@gmail.com
ĐT: 024 35566124, DĐ: 0983680276
Website: https://xoang.vn, https://taimuihongthuytran.com
Tu nghiệp
Tốt nghiệp bác sĩ hệ chính quy & Chuyên khoa Tai Mũi Họng cấp II tại trường Đại Học Y Khoa Hà Nội.
Bảo vệ luận án tiến sĩ chuyên ngành tai tại Viện Hàn Lâm Khoa Học Hungary.
Tu nghiệp chuyên sâu chức năng tai - vi phẫu thuật tai, phẫu thuật nội soi mũi xoang tại Hợp chủng Quốc Hoa Kỳ, Vương Quốc Hà Lan. 
Làm việc và tu nghiệp tại Viện Tai Mũi Họng Trung Ương, chuyên ngành vi phẫu thuật tai.
Khởi thảo và phát triển kỹ thuật Thủy Trần - Nội soi chức năng chẩn đoán và điều trị bệnh lý viêm mũi xoang ở người lớn và nhiễm khuẩn tai mũi họng ở trẻ em. Kỹ thuật này đã được cấp bản quyền tác giả năm 2013. Những kết quả điều trị thành công đã được công bố trong và ngoài nước các năm 2012, 2013, 2014, 2015, 2016 (Việt Nam); 2016 (Scottland Vương Quốc Anh); 2017 (Pháp, Vương quốc Bỉ); 2018 (Vương Quốc Anh, Thụy Điển), 2019 (Vương quốc Bỉ ).
____________________________________________________________________

 


Kỷ niệm 50 năm thành lập Viện, 10 tháng 10 năm 2019




Memorial park of  Waterloo battle,  28 June 2019






European ORL Congress -Brusselles - 1 July 2019






Cửa Lò - June 2019



14th CONGRESS OF THE EUROPEAN SOCIETY OF PEDIATRIC OTORHINOLARYNGOLOGY
"WORKING TOGETHER FOR THE CHILD"
2nd-5th June 2018 STOCKHOLM



The subject of Technical Resolution for Active Management of Recurrent Upper Respiratory Infections in Vietnamese Infants and Children was presented in the ESPOSTOCKHOLM 2018. The author was one of six Favorites Group of Congress attendees, showing in the website of Congress (see it below)






Big Bell, April 2018








European Rhinology Forum Brussel November 2017




European Rhinology Forum November  2017




Budapest June 2017, Visiting my Professor.




IFOS Paris June 2017




Vienna, June 2017




Chole 2016 Scotland




Westminster Abbey, London England - June 2016




Big Bell, June 2016

 
Bác sĩ trẻ
 


Thạc sĩ Tai Mũi Họng Trần Minh Trang



Tiến sĩ Lê Quang, thạc sĩ chuyên ngành Tai Mũi Họng
______________________________________________________________________________________

TAI MŨI HỌNG TRẺ EM

GIẢI PHẪU SINH LÝ VÒI NHĨ & TAI GIỮA 
 
Tai giữa gồm ba thành phần nối thông với nhau là tế bào chũm, hòm nhĩ và vòi nhĩ - Eustachian tube (hình H1, H2). Tế bào chũm - ở ngay sau vành tai, có kích thước nhỏ khi trẻ mới đẻ, phát triển lớn dần theo hướng ra sau, lên trên và xuống dưới của xương chũm. Mặt bên ở trung tâm nhóm tế bào chũm có một khoảng trống lớn gọi là sào bào, thành trước sào bào có đường nối thông với hòm nhĩ gọi là sào đạo. Sào đạo là một ống mở vào hòm nhĩ. Mặt trước hòm nhĩ là cửa loa vòi nhĩ, vòi nhĩ này mở vào vòm mũi họng. Hòm nhĩ có kích thước không đổi từ lúc trẻ sinh ra đến khi trưởng thành. Hòm nhĩ là một khoảng trống có sáu mặt, bên trong có chuỗi xương nghe, gắn liền với mặt bên là màng nhĩ và mặt trong hòm nhĩ. Mặt bên hòm nhĩ  là màng nhĩ, là đáy của ống tai ngoài. Mặt trong tiếp giáp với tai trong, mặt sau là nơi thông với sào đạo, mặt trước mở thông với vòi nhĩ. Mặt trên trần hòm nhĩ là vỏ xương tiếp giáp đại não, mặt dưới hòm nhĩ là vịnh cảnh.
 
 
Ba cấu trúc tế bào chũm, hòm nhĩ và vòi nhĩ tạo nên tai giữa, giữ chức năng truyền âm tiếp nhận âm từ môi trường bên ngoài và bảo vệ tai trong. Lót trong lòng ba khối rỗng nay là màng niêm mạc đường thở có lông chuyển tiết dịch nhày sinh lý, dòng dịch này được đào thải tự nhiên ra hốc mũi qua vòi nhĩ.




 
Ở người trưởng thành vòi nhĩ phát triển đầy đủ có chiều dài khoảng 3,7cm, hướng ra trước và xuống dưới tạo với phương ngang một góc 45 độ (H3, bên phải).
Ở trẻ mới đẻ vòi nhĩ ngắn, hướng ra trước chỉ chếch với phương ngang chỉ 10 độ (H3, bên trái) nên dịch viêm nhiễm ở vùng mũi họng bao gồm cả dịch dạ dày thực quản rất dễ trào qua vòi nhĩ để vào tai giữa gây nên sự đình trệ lưu thông khí và dịch trên cả ba cấu trúc tế bào chũm, hòm nhĩ, vòi nhĩ và dẫn đến viêm tai. Ở trẻ tổ chức Adenoid - VA rất phát triển, có thể gây che lấp một phần loa vòi nhĩ, gây thêm yếu tố thuận lợi gây tắc vòi nhĩ và thông khí mũi xoang, góp phần gây viêm tai.

Đặc điểm giải phẫu sinh lý vòi nhĩ ở trẻ em là nguyên nhân làm cho tỷ lệ viêm tai ở trẻ em cao hơn nhiều so với người trưởng thành. Màng nhĩ là mặt ngoài bên của hòm nhĩ có thể quan sát bởi đèn nội soi qua ống tai ngoài. Chích rạch màng nhĩ dẫn lưu dịch viêm khỏi tai giữa và điều trị ích cực viêm mũi họng, nạo VA là giải pháp điều trị viêm tai dựa trên đặc điểm giải phẫu sinh lý bệnh trên đây.
____________________________________________________

VIÊM VA & AMIDAN

Viêm VA
 
Chữ VA không có trong y văn chính thống. VA là cách người Việt quen dùng, bắt nguồn từ hai chữ gốc Pháp là Végétations Adénoides. Tiếng Anh là Adenoid Vegetation, Y văn quốc tế ngày nay gọi là Adenotonsillar, viết ngắn là Adenoid, viêm VA là Adenoditis

Vòng Waldeyer trong khoang mũi họng bao gồm các khối tổ chức lympho lớn nhỏ nằm ở hai bên thành họng miệng, đáy lưỡi, hai bên thành bên và trần vòm họng. VA có tên chuyên môn là Adenoid nằm ở trần vòm họng. Khi lớn lên khoảng 10 tuổi tổ chức này thu nhỏ kích thước và thường thóai triền khi lớn lên và biến mất không dấu vết ở tuổi trưởng thành. Nếu VA không to, không gây bít tắc thông khí mũi xoang ta không cần nạo bỏ.

Những viêm nhiễm tại tổ chức VA là phản ảnh tình trạng viêm nhiễm đang xẩy ra tại đường hô hấp trên của trẻ. Điều trị khỏi nhiễm khuẩn đường hô hấp là đã điều trị tổ chức VA viêm tốt nhất. Vấn đề nạo VA được đặt ra khi tổ chức VA quá phát triển về kích cỡ gây khó thở. thở ngáy, thở bằng miệng, viêm đường hô hấp, che lấp vòi tai, viêm tắc vòi tai và viêm tai giữa.
 
Vòng Waldeyer sản sinh ra các Ig như IgA, IgE, IgM và IgD có vai trò tích cực trong cơ chế tăng sức đề kháng miễn dịch bảo vệ cơ thể chống lại viêm nhiễm gây nên do dị ứng, do siêu vi trùng và vi khuẩn gây bệnh của đường hô hấp. Tổ chức VA  là một thành phần trong vai trò tích cực đó. Điểm khác nhau về vai trò tích cực này giữa hai khối tổ chức VA và Amidan là kích cỡ và vị trí của chúng. Amidan có khối lượng rất lớn so với VA, nhưng ngược lại tổ chức này nằm trong một khoàng không gian lớn là khoang họng miệng, khi viêm dù có sưng to hay quá phát kích cỡ một cách tự nhiên cũng không gây nên khó thở. Điều trị khỏi nguồn viêm mũi xoang Amidan sẽ khỏi, ta có thể giữ được vai trò miễn dịch bảo vệ cơ thể của nó. Trong khi đó VA tuy có hình thái rất nhỏ so với Amidan nhưng khối tổ chức này lại có thê bít gần kín một vùng giải phẫu vòm họng nhỏ hẹp làm cho trẻ khó thở đến mức thiếu dưỡng khí trường diễn, là nguyên nhân gây tắc vòi tai và viêm tai giữa và phát triển cơ thể chậm.
 
Có nên nạo VA không?
 
So sánh giữa lợi và hại của tổ chức VA
- Tổ chức VA có ích trong vai trò sản sinh yếu tố miễn dịch bảo vệ cơ thể, tuy nhiên khối lượng của nó rất nhỏ so với tổ chức Amidan. Nếu nạo bỏ đi tổ chức VA thì chức nằng tích cực với cơ thể của cả vòng Waldeyer không giảm đáng kể.
- Ngược lại tại ví trí ngã ba vòm mũi họng vòi tai nơi tổ chức VA chiếm chỗ: kích cỡ của VA lại là quá to đủ để cản trở đường thông khí giữa mũi họng gây khó thở trường diễn và có thể che kín loa vòi nhĩ gây nên viêm tắc vòi tai và viêm tai giữa.
- Khối tổ chức VA to làm cho trẻ thở đường miệng lâu ngày gây biến dạng phát triển hàm mặt, cung hàm trên nhô, sống mũi bị xẹp thấp. 
- Sau khi nạo VA những viêm nhiễm ở vòi tai, tai giữa, đường hô hấp được cải thiện tích cực ngay, thúc đẩy tốt sự phát triển cơ thể của trẻ.
- VA nằm trong vùng cấu trúc không có mạch máu lớn nên kỹ thuật được thực hiện an toàn.
 
Với những điều ích lợi trên ở tất cả các lứa tuổi: Nếu tổ chức VA lớn gây cản thông khí đều nên nạo bỏ.



Kích thước VA quá phát

 Viêm AMIDAN

Có nên cắt Amidan không?

Đây là một vấn đề đã được các nhà tai mũi họng, dị ứng miễn dịch trên thế giới dầy công khảo sát, nghiên cứu và họ đã đưa ra nhiều chính kiến. Trong đó có những quan điểm có mâu thuẫn trái chiều nhau trong phương án chữa trị.

Amidan từ Việt Nam hóa từ chữ Amydala - hạnh nhân. Xung quanh vòm họng, vòi tai đáy lưỡi là một chuỗi các hạnh nhân này, tạo thành một vòng khép kín gọi là vòng Waldeyer. Trong dân gian đã trở thành thói quen khi nói chữ Amidan là hàm ý chỉ khối hạnh nhân khẩu cái, trong y văn ngày nay gọi là Tonsil. Amidan khẩu cái là khối hạnh nhân to nhất. Khi há miệng ta sẽ nhìn thấy hai khối amidan này ở hai thành bên họng, chiếm chỗ từ bờ trên đáy lưỡi chạy lên cao đến gần lưỡi gà. Ở trẻ em hệ thống miễn dịch trên niêm mạc hô hấp rất mẫn cảm, tổ chức hạnh nhân này đặc biệt phát triển mạnh. Trẻ lớn lên bình thường kích thước của chúng thu nhỏ dần và thường chỉ còn lại khối amidan khẩu cái tuy có nhỏ đi nhưng vẫn để lại dấu vết kích cỡ khác nhau với màu sắc hồng bình thường như niêm mạc xung quanh vùng họng chung sống mãi ôn hòa với con người. Các nghiên cứu đã xác nhận vai trò tích cực chống viêm và miễn dịch của vòng Waldeyer trong đó Amidan khẩu cái quan trọng nhất vì khối lượng của nó lớn hơn cả. Những nghiên cứu mới nhất của Shirley W.P và cộng sự [Cummings ORL Head and Neck Surgery, 2010] đã khẳng định vai trò miễn dịch của Amidan sản sinh ra  IgA, IgM, IgG và IgD bảo vệ cơ thể, vai trò chống viêm của tế bào lympho trong tổ chức Amidan.

Triệu chứng

Khi amidan viêm quá phát, có thể tạo thành ổ apxe Amidan hoặc apxe quanh Amidan là phản ánh một quá trình viêm nhiễm đường hô hấp đang diễn ra mãnh liệt có cội nguồn là viêm mũi xoang mạn tính. 
Amidan viêm nhiễm kéo dài là dịch viêm đang thường xuyên đưa vi trùng xuống họng.
  
Toàn thân sốt cao, mệt mỏi, có thể đau người, nổi hạch góc hàm.
Triệu chứng tại họng: Đau họng có thể đau một bên hoặc hai bên họng, nuốt đau, nuốt đau lên tai cùng bên, nuốt vướng, khô họng, ho, có đờm dịch viêm chảy ở thành sau họng.
Khám : Niêm mạc vùng họng viêm đỏ, hình thái amidan sưng to, mầu đỏ rực, bề mặt tổ chức này trở nên xù xì , có những khe rãnh chứa mủ, nặng hơn có thể thành ổ apxe quanh Amidan với những mảnh giả mạc trắng đục.
 
Điều trị
 
1/ Giải pháp truyền thống

- Nội khoa với kháng sinh: Với Augmentin hoặc Cephalosporine
- Ngoại khoa: cắt Amidan
 
Chỉ định cắt Amidan [Cumming 2010]
- Với Amidan viêm nhiễm :
Amidan viêm tái phát 6 lần trong một năm, hoặc 3 lần trong năm trong giai đoạn 2 năm
Amidan viêm phối hợp với những điều kiện khác như bệnh thấp tim với viêm Amidan do Streptococcal
- Viêm amidan không đáp ứng với điều trị nội khoa.
Hơi thở hôi, viêm họng mạn tính, hạch cổ viêm cứng, apxe quanh Amidan
- Với Amidan quá phát gây tắc nghẽn:
Gây thở ngáy, thở bằng miệng, nghẹt thở khi ngủ, viêm phổi đốm, chậm lớn, phát triển ngôn ngữ chậm, giọng nói bất thường, quá phát hình thái Amidan gây nuốt vướng.
                     
2/ Giải pháp của Trần Lệ Thủy [ Kỹ thuật Thủy Trần ]
[Thực hiện tại Clinic Thủy Trần]


 Không cắt Amidan vì lý do sau: Amidan viêm  mạn tính hoặc viêm tái phát là phản ảnh một quá trình viêm nhiễm kéo dài đang xẩy ra trên niêm mạc đường hô hấp có nguồn gốc từ mũi xoang. Vì vậy cắt amidan không giải quyết được bản chất vấn đề  viêm nhiễm.

Viêm mũi xoang mạn tính ở người lớn, trẻ lớn và nhiễm khuẩn đường hô hấp trên tái diễn ở trẻ nhỏ là nguồn bệnh đưa mủ xuống họng gây viêm Amidan:  Kết quả nghiên cứu lâm sàng cho thấy Amidan viêm tự khỏi hoàn toàn sau khi nguồn viêm mũi xoang được chữa khỏi triệt để. 

Tại Clinic Thủy Trần, bệnh lý viêm mũi xoang mạn và nhiễm khuẩn đường hô hấp trên ở trẻ em được điều trị tích cực với kỹ thuật nội soi hút rửa hệ thống họng và mũi xoang, loại bỏ ổ viêm, cho dung dịch kháng sinh trực tiếp vào mũi xoang. Chỉ định điều trị ngoại khoa mổ nội soi chức năng mũi xoang phối hợp trên bệnh nhân viêm mũi xoang có bất thường giải phẫu trong hốc mũi.

________________________________________________________
 
VIÊM TAI GIỮA CẤP

Acute Otitis Media - AOM

Triệu chứng 
Đau tai, nghe kém kiểu dẫn truyền, chẩy mũi, ho, sốt, nhiễm khuẩn hô hấp rầm rộ, trẻ nhỏ thường có kèm theo chứng trào ngược thực quản.

Nội soi tai thấy màng nhĩ đỏ rực, phồng, bóng mủ trong hòm tai, có thể đã tự vỡ mủ.
Màng tai có thể dầy cộm hồng xạm: là hình ảnh viêm tai cấp chuyển thể từ bệnh Viêm tai keo [Otitis Media with Effusion - OME ] [H1]. Niêm mạc mũi họng phù viêm tiết dịch nhày, mủ.

Xử lý:  
1- Chích rạch màng nhĩ ở ¼ sau hoặc trước dưới dẫn lưu mủ. Đặt ống thông khí nếu bệnh là biến thể từ một  viêm tai keo [H2].
 2- Hút rửa dịch mủ viêm khoang mũi họng & vòi tai [ Kỹ thuật Thủy Trần ]

 3- Nạo VA nếu khối VA to che lấp vòi tai, cản thông khí
Điều trị kịp thời theo qui trình trên bệnh chuyển biến nhanh chóng, tiên lượng tốt, không để lại di chứng, tránh dùng kháng sinh toàn thân.

                               


 H1 - Màng tai viêm tai giữa cấp
biến chuyển từ một viêm tai keo

 
H2 - Tháo mủ & đặt ống thông khí
________________________________________________________
 
VIÊM TAI TIẾT DỊCH
Otitis Media with Effusion - OME
 
Bệnh được gọi với những tên khác nhau: Viêm tai tiết dịch, viêm tai keo, viêm tai thanh dịch, viêm tai màng nhĩ đóng kín. Thuật ngữ quốc tế là OME - Otitis Media with Effusion.

Triệu chứng

OME là dạng viêm tai kín đáo gần như không có triệu chứng [ còn được gọi là asymptomatic ] màng nhĩ đóng, ứ dịch, keo bên trong hòm tai giữa, vòi nhĩ mất chức năng, thính lực giảm. Người lớn và trẻ lớn có thể cung cấp triệu chứng nghe kém, ù tai, bức bách trong tai. Soi tai: màng nhĩ mất di động, dầy cộm, phồng hoặc phẳng hoặc lõm bất thường, mầu hồng xạm, xám, có thể thấy mức nước, múi dịch mủ trong hòm tai giữa, hoặc màng tai dính vào đáy hòm nhĩ. Ở trẻ nhỏ vì không phát hiện được triệu chứng khách quan nên bệnh dễ bị bỏ sót chẩn đoán, khi phát hiện có thể đã muộn, thường đã để lại di chứng.
Đo nhĩ đồ: Nhĩ đồ bẹt, hoặc đỉnh thấp nằm trên vùng áp lực âm bên trái. Thính lực đồ có nghe kém kiểu dẫn truyền, mất từ 25-40dB, ngôn ngữ chậm phát triển do không nghe được; Một số ít trường hợp có điếc thể thần kinh, do bệnh lý đã gây tổn thương tai trong.

Cơ chế bệnh lý

Trên những bệnh nhân OME các nhóm thông bào khí trong xương thái dương rất phát triển [ bao gồm nhóm tế bào xương chũm, nhóm quanh mê nhĩ, nhóm mỏm xương đá], dịch từ những nhóm thông bào này đổ vào tai giữa, rồi từ đây qua vòi nhĩ để xuống vòm mũi họng: Trong bênh cảnh viêm tai tiết dịch vòi nhĩ tắc, mất chức năng thông khí nên dịch ứ lại trong hòm tai giữa.

Theo Hentzer [9] niêm mạc tai giữa là niêm mạc đường thở biến dị, không còn lông chuyển - nonciliated cell - trong đó tế bào hình cốc đóng vai trò đặc trưng tiết nhầy của tai giữa và vòi nhĩ.

Viêm tai tiết dịch thường xẩy ra trên trẻ nhỏ có cơ địa dị ứng, miễn dịch kém: niêm mạc hô hấp mũi xoang tai giữa vòi nhĩ tăng tiết dịch. Dịch tiết từ hệ thống thông bào trong xương thái dương có một khối lượng khổng lồ, hòm tai giữa chỉ như một trạm trung chuyển dịch mà thôi. Dịch có thể nhày, thanh dịch, hoặc có dạng, keo dính, hoặc đổi mầu vì có nhiễm khuẩn.

Bệnh lý viêm tai tiết dịch này còn liên quan đến chứng trào ngược thực quản, dịch nhiễm khuẩn thức ăn có thể trào vào tai giữa qua vòi Eustachian, làm tăng tính viêm nhiễm phối hợp của viêm tai keo, gây bệnh kéo dài khó dứt.

Xử lý 

  1- Chích mở màng nhĩ ở ¼ sau dưới hoặc trước dưới, dẫn lưu dịch keo, đặt ống thông khí.
  2- Hút rửa khoang mũi họng điều trị nhiễm khuẩn đường hô hấp, vòi tai Kỹ thuật Thủy Trần ]
  3- Nạo VA nếu VA to che lấp vòi tai gây mất thông khí vòi tai.
  4- Chữa trào ngược thực quản: Cho trẻ ăn đúng cách: Chia nhỏ bữa, ăn trong tư thế đầu cao, bữa tối ăn cách xa giấc ngủ đêm khoảng 3 tiếng để tránh dịch thực quản trào lên mũi họng, qua vòi tai vào tai giữa.
Thính lực sẽ cải thiện ngay sau khi đặt ống thông khí, trừ trường hợp đã bị điếc kiểu thần kinh.


Theo rõi sau đặt ống thông khí

Thông thường ống thông khí có thể nằm lại trong màng tai lâu từ một vài tháng có khi lâu hơn nữa. Khi chức năng vòi nhĩ trở lại bình thường ống thông khí sẽ tự đẩy ra khỏi tai giữa và màng nhĩ sẽ tự liền lại.
Sau khi điều trị khỏi nhiễm khuẩn đường hô hấp trên tình trạng sức khoẻ của bệnh nhân hồi phục. Sự theo rõi không có một lộ trình đặc biệt về mặt thời gian, phụ thuộc vào mức độ chảy dịch và mủ. Nếu dịch tiếp tục chảy chỉ cần lau cửa tai bằng bông sạch, cắt tóc mai ngắn để tránh gây nhiễm trùng vào tai.
Nếu có mủ đặc là OME đã nhiễm khuẩn. Cần được điều trị kháng sinh uống, vệ sinh làm thuốc tai, hút rửa dịch nhày ứ đọng ở ống thông khí, tránh bít tắc. Bình thường ống thông khí nằm trong tai bệnh nhân êm ái không gây nên một dấu hiệu bất thường nào. Nếu đột nhiên bệnh nhân có sốt hoặc đau tai là báo hiệu ống thông khí bị bít tắc và dịch viêm bị ứ lại bên trong tai giữa: cần nội soi để làm vệ sinh hút rửa. Bệnh nhân điều trị theo qui trình trên đều khỏi bệnh.

Ở người lớn cao tuổi màng nhĩ sau quá trình viêm đã trở nên teo mỏng mạch máu nuôi dưỡng rất hạn chế, ống thông khí có thể không tự đẩy ra khỏi màng nhĩ trong một thời gian dài hơn những người trẻ tuổi, hoặc sau khi ống thông khí bật ra, tai khô nhưng màng tai khó liền lại.

Biến chứng của việc đặt ống thông khí rất hiếm khi xẩy ra.
Do những viêm nhiễm phối hợp của ống tai ngoài, do lượng mủ đặc keo dính, có áp lực mủ nhày lớn đột biến gây chệch vị trí ống thông khí, ống có thể bị đẩy ra ngoài ống tai ngoài hoặc lọt vào trong hòm nhĩ. Xử lý đặt lại ống thông khí vào đúng vị trí.

Biến chứng của viêm tai tiết dịch

- Nghe kém kiểu truyền âm, một số ít nghe kém kiểu tiếp âm.
- Viêm xương chũm: Nếu không được dẫn lưu dịch qua ống thông khí dịch keo ứ đọng trong tai giữa gây nên viêm tai giữa mủ và viêm xương chũm.
- Xẹp màng nhĩ vào thành trong hòm nhĩ gây nên nghe kém nặng vì hòm nhĩ và hệ thống các xương nghe của tai giữa trở nên một khối kết dính không còn giữ được chức năng truyền âm, gây điếc dẫn truyền nặng. Số ít có thể gây nên nghe kém kiểu tiếp nhận. 
- Chảy tai kéo dài và hay tái phát do trào ngược thực quản: bệnh lý này giống như cái bơm tự động không ngừng bơm dịch nhiễm khuẩn của đường tiêu hóa lên tai giữa qua vòi tai.
 
Kết quả điều trị

Với một tỷ lệ rất thấp bệnh nhân viêm tai keo có nghe kém kiểu tiếp nhận - hay còn gọi là kiểu thần kinh do quá trình viêm đã tấn công vào vùng tai trong việc đặt ống thông khí chỉ  là để dẫn lưu mủ dịch viêm ra khỏi cơ thể, thính lực sẽ không hồi phục.

Đại đa số trường hợp viêm tai keo nghe kém kiểu truyền âm, quá trình viêm keo chỉ khu trú ở tai giữa, sau khi đặt ống thông khí thính lực cải thiện ngay. Mủ và dịch viêm được đẩy ra ngoài cơ thể, sức khoẻ cải thiện, không để lại di chứng.

Một số ít bệnh nhân người lớn, do dị ứng tăng tiết dịch của các thông bào khí trong xương thái xương, do hội chứng trào ngược thực quản phối hợp gây nên tình trạng dịch tai chảy kéo dài, hoặc hay tái phát ống thông khí không tự đẩy ra khỏi màng tai.

Di chứng của viêm tai tiết dịch

Nếu không được điều trị đúng sẽ để lại di chứng gây xẹp màng nhĩ vào đáy nhĩ, nghe kém không hồi phục. hoặc chuyển thành viêm tai giữa mủ.
 
Ví dụ 1: Màng nhĩ trong viêm tai keo - chích màng tai đặt ống thông khí
 

Ví dụ 2: Viêm tai keo hai bên,  điếc hỗn hợp 2 tai  & nhĩ đồ bệnh lý


Ví dụ 3: Viêm tai keo bên trái
________________________________________________________

VIÊM XOANG & NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP Ở TRẺ EM

Viêm mũi xoang ở trẻ em và nhiễm khuẩn đường hô hấp ở trẻ có đặc điểm là tiến triển rất rầm rộ do phản ứng miễn dịch mãnh liệt xẩy ra trên bề mặt niêm mạc hô hấp và sự bùng phát của hệ thống lympho [trong đó có VA & Amidan]. Sự viêm nhiễm rất nhanh chóng gây nên viêm tắc vòi tai, viêm tai giữa, tạo thành tổ hợp sau:
              -  Nhiễm khuẩn hô hấp trên - viêm mũi xoang
              -  Viêm vòi tai rồi viêm tai giữa
              -  Quá phát VA & Amidan
              -  Trào ngược dạ dầy thực quản
              -  Gây viêm đường hô hấp dưới


Vòi tai Eustachian tube dài khoảng 3,7cm nối tai giữa với vòm mũi họng.
Vòi tai bình thường giúp cho sự nghe, tránh tác hại của những âm thanh quá lớn, đào thải dịch sinh lý từ tai giữa ra vòm mũi họng. Vòi tai ở trẻ nhỏ ngắn, nằm ngang, cơ khép vòi tai yếu, do vậy vòi luôn mở để dịch từ khoang mũi họng, dịch thực quản tràn vào tai giữa. Vòi tai viêm nhiễm tắc nghẽn luôn là một phần của bệnh cảnh viêm nhiễm mũi xoang và đường hô hấp trên ở trẻ.
 

 H1 - Điều trị nhiễm khuẩn hô hấp trên ở trẻ em với Kỹ thuật Thủy Trần 
 
Điều trị [H1] Giải quyết bốn vấn đề sau:

1- Trẻ nhỏ được quấn trong một khăn vải mềm kiểu quấn tã [có đóng bỉm], y tá giữ trẻ trong tư thế nằm đầu ngả thấp khỏi mép giường: Qua đường mũi nội soi hút rửa toàn bộ khoang mũi họng và vòi tai với nước muối sinh lý 0,9%, cho dung dịch kháng sinh tại chỗ. Tư thế kỹ thuật này cho phép thao tác khám chữa bệnh hiệu quả và an toàn tuyệt đối, tránh cho dịch viêm và nước muối chảy xuống họng và đường hô hấp dưới, nhanh chóng giải phóng bít tắc đường thở, thoát khỏi tình trạng phù viêm khó thở.
Ưu điểm: Cải thiện nhanh chóng tình trạng viêm nhiễm cấp tính, lập lại đường thở lành mạnh cho trẻ. Tránh tác hại của kháng sinh uống & tiêm, đưa dung dịch kháng sinh vào hốc mũi xoang
2- Xử lý viêm tai giữa [nếu có]
3- Nạo VA
4- Điều trị trào ngược dạ dầy thực quản
Bệnh cải thiện ngay, thông thường khỏi bệnh nhanh chóng trong khoảng 7-14 ngày


______________________________________________________________________________________
 

BỆNH VỀ TAI


GIẢI PHẪU SINH LÝ VÒI NHĨ & TAI GIỮA

Tai giữa gồm ba thành phần nối thông với nhau là tế bào chũm, hòm nhĩ và vòi nhĩ - Eustachian tube (hình H1, H2). Tế bào chũm - ở ngay sau vành tai, có kích thước nhỏ khi trẻ mới đẻ, phát triển lớn dần theo hướng ra sau, lên trên và xuống dưới của xương chũm. Mặt bên ở trung tâm nhóm tế bào chũm có một khoảng trống lớn gọi là sào bào, thành trước sào bào có đường nối thông với hòm nhĩ gọi là sào đạo. Sào đạo là một ống mở vào hòm nhĩ. Mặt trước hòm nhĩ là cửa loa vòi nhĩ, vòi nhĩ này mở vào vòm mũi họng. Hòm nhĩ có kích thước không đổi từ lúc trẻ sinh ra đến khi trưởng thành. Hòm nhĩ là một khoảng trống có sáu mặt, bên trong có chuỗi xương nghe, gắn liền với mặt bên là màng nhĩ và mặt trong hòm nhĩ. Mặt bên hòm nhĩ  là màng nhĩ, là đáy của ống tai ngoài. Mặt trong tiếp giáp với tai trong, mặt sau là nơi thông với sào đạo, mặt trước mở thông với vòi nhĩ. Mặt trên trần hòm nhĩ là vỏ xương tiếp giáp đại não, mặt dưới hòm nhĩ là vịnh cảnh.
 

 
Ba cấu trúc tế bào chũm, hòm nhĩ và vòi nhĩ tạo nên tai giữa, giữ chức năng truyền âm tiếp nhận âm từ môi trường bên ngoài và bảo vệ tai trong. Lót trong lòng ba khối rỗng nay là màng niêm mạc đường thở có lông chuyển tiết dịch nhày sinh lý, dòng dịch này được đào thải tự nhiên ra hốc mũi qua vòi nhĩ.
 


 
 
Ở người trưởng thành vòi nhĩ phát triển đầy đủ có chiều dài khoảng 3,7cm, hướng ra trước và xuống dưới tạo với phương ngang một góc 45 độ (H3, bên phải).
Ở trẻ mới đẻ vòi nhĩ ngắn, hướng ra trước chỉ chếch với phương ngang chỉ 10 độ (H3, bên trái) nên dịch viêm nhiễm ở vùng mũi họng bao gồm cả dịch dạ dày thực quản rất dễ trào qua vòi nhĩ để vào tai giữa gây nên sự đình trệ lưu thông khí và dịch trên cả ba cấu trúc tế bào chũm, hòm nhĩ, vòi nhĩ và dẫn đến viêm tai. Ở trẻ tổ chức Adenoid - VA rất phát triển, có thể gây che lấp một phần loa vòi nhĩ, gây thêm yếu tố thuận lợi gây tắc vòi nhĩ và thông khí mũi xoang, góp phần gây viêm tai. 
Đặc điểm giải phẫu sinh lý vòi nhĩ ở trẻ em là nguyên nhân làm cho tỷ lệ viêm tai ở trẻ em cao hơn nhiều so với người trưởng thành. Màng nhĩ là mặt ngoài bên của hòm nhĩ có thể quan sát bởi đèn nội soi qua ống tai ngoài. Chích rạch màng nhĩ dẫn lưu dịch viêm khỏi tai giữa và điều trị ích cực viêm mũi họng, nạo VA là giải pháp điều trị viêm tai dựa trên đặc điểm giải phẫu sinh lý bệnh trên đây.
___________________________________________________

ĐIẾC ĐỘT NGỘT
Sudden Deafness

Là bệnh điếc thể tiếp nhận, còn gọi là điếc thể thần kinh hoặc điếc tai trong, xẩy ra đột ngột trong khoảng thời gian ngắn vài giờ hoặc vài ngày do các nguyên nhân cấp tính tác động vào bộ phận cochlea và saccule  của tai trong. 
 
Nguyên nhân 
 
Có những tác nhân sau có thể gây tổn thương cấp tính các tế bào nghe là :
- Viêm nhiễm đặc biệt là do siêu vi trùng như quai bị, sởi, Influenza, adenovirus. Nhiễm khuẩn sau viêm mê nhĩ, viêm màng não.
- Do các bệnh gây co thắt mạch máu tai trong đột ngột, do phù nề, chảy máu, tắc mạch. Bệnh có thể tự hồi phục tự nhiên, có thể hồi phục một phần, cũng có thể điếc vĩnh viễn.
- Nhiễm độc thuốc, phản ứng với thuốc.
- Tiếng ồn cường độ mạnh đột ngột xảy ra.
- Những biến đổi áp lực gây tổn thương ốc tai màng.
- Những lỗ dò bẩm sinh trên của sổ tròn, cửa sổ bầu dục nhân có sức ép đột ngột đã trở thành tác nhân gây sức ép chấn thương nội dịch tai trong.
-  Do sự xâm lấn của khối u dây thần kinh thính giác.
 
Triệu chứng lâm sàng
 
Điếc đột ngột có thể ngay lập tức phát triển ở mức tối đa của bệnh, thường chỉ một tai, hiếm trường hợp điếc hai bên. Điếc có thể kèm theo triệu chứng ù tai, chóng mặt do tiền đình và ốc tai cùng một lúc chịu tác nhân gây bệnh.
 
Đo thính lực
 
Với âm đơn cả đường xương và đường khí đều giảm, cho thấy điếc tiếp nhận ở các mức độ khác nhau.
Bệnh có thể tự hồi phục hoàn toàn, có thể hồi phục một phần, cũng có thể tồn tại mãi mãi, nếu tác nhân gây bệnh đã làm hư hoại tế bào lông của cơ quan corti. Điếc đột ngột ở giai đoạn cuối xẩy ra sau viêm mê nhĩ thường không có khả năng hồi phục. Sự đổ máu, sự thiếu máu cục bộ tại cơ quan corti cũng sớm gây đình trệ hoạt động thính giác đến mức không hồi phục lại được.
 
Điều trị
 

Là cấp cứu.
Thuốc điều trị có tác dụng rất hiệu quả trong những giờ đầu, những ngày đầu, do vậy phải coi điếc đột ngột như một bệnh cấp cứu. Đối với các nguyên nhân gây điếc do viêm nhiễm phù nề dị ứng điều trị kháng sinh và corticoid, histamine rất hiệu quả. Truyền huyết thanh ngọt ưu trương để thải độc, ngừng dùng các thuốc mà bệnh nhân đã điêù trị trước đó nếu có nghi ngờ có ngộ độc thuốc. Thuốc chống co thắt mạch máu, tăng tuần hoàn, chống đông máu được sử dụng để nhanh chóng lập lại tuần hoàn ở tai trong, cung cấp oxy trở lại kịp thời nuôi dưỡng lại tế bào thính giác. Divascol, papaverine góp phần cải thiện tuần hoàn máu.
___________________________________________________

LIỆT MẶT NGOẠI BIÊN
Facial nerve paralysis

Đường đi và liên quan
 
 
Liệt mặt còn được gọi là liệt dây VII. Liệt mặt ngoại biên thuộc phạm vi bệnh học của ngành chuyên khoa tai mũi họng. Là bệnh do các tác nhân gây bệnh tác động vào giây thần kinh mặt phần ngoại biên tính từ vị trí giây thần kinh VII thoát ra khỏi não ở rãnh hành cầu, chui vào ống tai trong xuyên qua phần xương đá, đến tai giữa, xương chũm, ra khỏi hộp sọ ở lỗ trâm chũm, đi vào tuyến mang tai, và chia nhánh ở đây. Giây thần kinh mặt chi phối hoạt động các cơ căng da mặt, cơ bàn đạp,các cơ sau tai,cơ  nhị thân, cơ căng da cổ. Nhánh trung gian còn gọi là Grisberg, chứa các sợi cảm giác hai phần ba trước lưỡi, sợi phó giao cảm điều tiết tuyến dưới hàm, dưới lưỡi, và tuyến nước mắt. Dây VII còn chứa các sợi hướng tâm nối với nhánh tai của dây X cung cấp cảm giác cho ống tai ngoài, qua nhánh thần kinh khẩu cái lớn chi phối cảm giác niêm mạc mũi, khẩu cái, họng. 
Ra khỏi rãnh hành cầu dây VII và dây trung gian Grisberg đi một đoạn ở vỏ não dài khoảng 12-14mm cùng với dây VIII vào ống tai trong. Đoạn trong ống tai trong dài khoảng 8-10mm, chạy đến hạch gối. Đến đây nó phân ra nhánh đá nông lớn, nhánh này đi kèm với các sợi phó giao cảm chi phối tuyến lệ và nhánh đá nông bé cung cấp các sợi phó giao cảm cho tuyến mang tai. Từ hạch gối, nằm sau trên thành trong hòm nhĩ, dây VII đi trên bờ cửa sổ bầu dục, dài khoảng 10mm. Đoạn này rất quan trọng ta có thể gọi nó là đoạn hòm nhĩ. Đoạn này có tỷ lệ cao không có vỏ xương bao bọc và rất dễ bị tổn thương trong viêm nhiễm của tai giữa, cũng như dễ chấn thương trong phẫu thuật xương bàn đạp. Tiếp đó dây VII ngoặt xuống dưới và ra sau để đi đến mỏm xương chũm . Đoạn dây VII chạy trong xương chũm dài khoảng 14mm và chui ra khỏi xương chũm ở lỗ trâm chũm để đi vào tuyến mang tai. Đến đây dây thần kinh trung gian cho nhánh là dây thừng nhĩ - Chorda tympani, đi ngược lên hòm nhĩ lách vào giữa  xương đe và xương búa và thoát ra vùng đá nhĩ. Trong tuyến mang tai dây VII nằm lọt giữa hai thuỳ tuyến mang tai giống như sợi dây đánh dấu giữa hai phía của một cuốn sách, nó chia ra thành các nhánh sau: Thái dương, gò má, miệng, hàm dưới, cổ.
 
Nguyên nhân
 
Do siêu vi trùng thường gặp nhất là bệnh Zonna. Loại virus này xâm nhập vào hạch gối, ở vị trí nối đoạn hòm nhĩ với đoạn ống tai trong.
Do vi trùng trong viêm tai giữa cấp hoặc mạn.
Do chấn thương xương đá, xương nhĩ, hoặc xương chũm.
Do sang chấn phẫu thuật xương chũm hoặc tai giữa.
Liệt mặt Bell: còn được gọi là liệt mặt vô căn, hoặc do lạnh,hoặc do co thắt, thân dây VII bị chèn ép trong vỏ xương.
Do khối u chèn ép: u hạt, u tuyến mang tai, u dây VII Schwanomma, hội chứng Melkersson - Rosenthals.
 
Triệu chứng liệt mặt
 
Triệu chứng lâm sàng của liệt dây VII ngoại biên như sau :Da mặt,miệng,mắt trán mất độ căng. Các nếp nhăn trán trở nên mất cân xứng, nhân chung lệch, mắt nhắm không kín, chảy nước mắt, tê 1/3 trước lưỡi,miệng có thể chẩy xệ một bên, khi ăn uống nước có thể trào ra khoé miệng bên bị liệt. Mức độ liệt khác nhau tuỳ mức độ tổn thương hoặc mức độ thân dây VII bị chèn ép.
 
Điều trị
 
Điều trị nguyên nhân.
- Chống viêm & phù nề cấp  bằng kháng sinh và corticoid
- Với chấn thương: phẫu thuật bộc lộ dây VII để giải phóng dây VII khỏi vỏ xương để thoát khỏi chèn ép trực tiếp, nối dây VII khi có chấn thương bị đứt.
- Trong viêm tai mạn tính, đặc biệt là loại có chất phá huỷ xương Cholesteatoma dây VII rất dẽ bị tổn thương đoạn khuỷu là điểm nối giữa  đoạn hòm nhĩ với đoạn đi xuống mỏm xương chũm. Chỉ định mổ tai và xương chũm cấp cứu để cứu dây VII ra khỏi sự huỷ diệt của Cholesteatoma.
- Với liệt mặt Bell: điều trị chống phù viêm và theo rõi sự tiến triển. Nếu triệu chứng tăng dần, hoặc không phục hồi trong khoảng 2-3 tuần nên đặt vấn đề mổ bộc lộ dây VII, tìm căn nguyên và giảm sức ép của vỏ xương bao quanh thân dây VII.
- Phẫu thuật loại bỏ các khối u giải phóng dây VII.
___________________________________________________

CHOLESTEATOMA

Viêm tai giữa hoặc viêm tai xương chũm có Cholesteatoma là thể bệnh nguy hiểm cần được kiểm soát và điều trị triệt để.
Cholesteatoma nguyên phát có mầu trắng như xà cừ.Cholesteatoma thứ phát trong tai viêm có mầu trắng hoặc nâu, như bã đậu và mùi thối như mùi cóc chết.
Bản chất là tổ chức biểu mô da phát triển lạc chỗ.Loại cholesteatoma nguyên phát nằm sắn trong tai giữa hoặc trong xương đá, xương chũm. Phát hiện được do ngẫu nhiên, có thể tồn tại lâu trong các vị trí trên, không gây ra bệnh lý. Loại cholesteatoma gây bệnh lý quan trọng là thể thứ phát sau viêm tai giữa. Ở thể này biểu mô da ống tai vượt qua lỗ thủng của màng nhĩ di cư vào tai giữa, vào vòi nhĩ, vào xương chũm qua sào đạo, vào xươnng đá. Cholesteatoma phát triển rất nhanh và có khả năng xâm lấn  xương, ăn mòn xương nhĩ xương chũm, phá huỷ vỏ dây thần kinh VII, hệ thống xương con trong tai giữa, xâm lấn vùng tiền đình, ốc tai, nặng hơn có thể phá huỷ vỏ xương sọ để vào vỏ não gây nên những viêm màng não, áp xe não sau viêm tai giữa và xương chũm. Đặc biệt nguy hiểm là dạng cholesteatoma nằm trong các hốc hẹp của vùng thượng nhĩ gây nên sự phá huỷ xương kín đáo.
Một dạng khác hiếm gặp hơn là cholesteatoma phát triển ngay trong ống tai. Những nút cholesteatoma ăn lõm sâu vào thành xương ống tai ngoài. Nó có thể xâm lấn vào xương chũm ở phía sau tai. Nó có thể xâm lấn gây liệt mặt sớm qua vị trị chia nhánh dây thần kinh thừng nhĩ đi ra từ đoạn xương chũm của dây VII.
Tuỳ theo vị trí xâm lấn cholesteatoma có thể gây điếc dẫn truyền nặng, điếc tiếp nhận, viêm mê nhĩ và liệt dây thần kinh VII.
 
Trong chữa trị cần lấy bỏ hết tổ chức cholesteatoma, kiểm tra kỹ mọi ngóc ngách nghi ngờ dưới sự soi sáng của kính hiển vi phẫu thuật và ống nội soi tai.
___________________________________________________

VIÊM VÒI NHĨ & VIÊM TAI GIỮA

Về mặt giải phẫu và sinh lý bệnh vòi nhĩ - Eustachian Tube được coi là một phần nối dài của hòm nhĩ tạo nên tai giữa. [H1] Chức năng của vòi nhĩ là cân bằng áp xuất giữa hòm tai giữa với môi trường duy trì sự truyền âm, bảo vệ tai giữa tránh những âm quá lớn, bài tiết dịch nhày sinh lý từ hòm nhĩ ra mũi họng. Bình thường vòi tai chỉ mở khi ngáp & nuốt. Trong bệnh lý viêm mũi xoang vùng cửa loa vòi nhĩ là nơi tập kết mủ dịch viêm gây phù nề vòi nhĩ, tắc vòi nhĩ rồi dẫn đến viêm tai giữa. Vì mối liên quan này, mỗi triệu chứng viêm tắc vòi tai như ù tai, ngứa tai, nghe kém, đau tai hoặc viêm tai giữa đều gián tiếp phản ánh một tình trạng viêm mũi xoang tiềm ẩn. Bệnh lý xoang là có trước, là nguyên nhân gây viêm vòi nhĩ và tai giữa [H2, H3].

 
H1- Tai giữa thông với vòm họng qua vòi tai



Kỹ thuật Thủy Trần: Hút mủ từ vòi tai trái
 


H2 - Mủ hút từ xoang hàm trái
                                                                            1. Mủ từ xoang hàm trái
                                                                            2. Nhĩ đồ bệnh lý: tắc vòi nhĩ, mủ trong tai giữa
                                                                            3. Thính lực đồ điếc dẫn truyền tai phải
                                                                            4. Thính lực đồ điếc dẫn truyền tai trái



H3 - Viêm mũi xoang & viêm tai keo
 
                                                          1. Màng nhĩ bệnh lý trong viêm tai keo
                                                          2. Đặt ống tai dẫn lưu mủ
                                                          3. Nhĩ đồ bệnh lý viêm tai keo
                                                          4. Thính lực đồ điếc dẫn truyền tai phải
                                                          5. Thính lực đồ điếc dẫn truyền tai trái

 
Triệu chứng viêm xoang ẩn trên bệnh nhân nghe kém, ù tai
___________________________________________________


VIÊM TAI GIỮA CẤP

Acute Otitis Media - AOM


Triệu chứng

Đau tai, nghe kém kiểu dẫn truyền, chẩy mũi, ho, sốt, nhiễm khuẩn hô hấp rầm rộ, trẻ nhỏ thường có kèm theo chứng trào ngược thực quản.

Nội soi tai thấy màng nhĩ đỏ rực, phồng, bóng mủ trong hòm tai, có thể đã tự vỡ mủ.
Màng tai có thể dầy cộm hồng xạm: là hình ảnh viêm tai cấp chuyển thể từ bệnh Viêm tai tiết dịch [Otitis Media with Effusion - OME ] [H1]. Niêm mạc mũi họng phù viêm tiết dịch nhày, mủ.

Xử lý:  

1- Chích rạch màng nhĩ ở ¼ sau hoặc trước dưới dẫn lưu mủ. Đặt ống thông khí nếu bệnh là biến thể từ một viêm tai tiết dịch [H2].
 2- Hút rửa dịch mủ viêm khoang mũi họng & vòi tai [Kỹ thuật Thủy Trần]

 3- Nạo VA nếu khối VA to che lấp vòi tai, cản thông khí
Điều trị kịp thời theo qui trình trên bệnh chuyển biến nhanh chóng, tiên lượng tốt, không để lại di chứng, tránh dùng kháng sinh toàn thân.

 


 

 H1 - Màng tai viêm tai giữa cấp
biến chuyển từ một viêm tai tiết dịch

 

 H2 - Tháo mủ & đặt ống thông khí

_____________________________________________________________________

VIÊM TAI TIẾT DỊCH
Otitis Media with Effusion - OME

Bệnh được gọi với những tên khác nhau: Viêm tai tiết dịch, viêm tai keo, viêm tai thanh dịch, viêm tai màng nhĩ đóng kín. Thuật ngữ quốc tế là OME - Otitis Media with Effusion

Triệu chứng

OME là dạng viêm tai kín đáo gần như không có triệu chứng [ còn được gọi là asymptomatic ] màng nhĩ đóng, ứ dịch, keo bên trong hòm tai giữa, vòi nhĩ mất chức năng, thính lực giảm. Người lớn và trẻ lớn có thể cung cấp triệu chứng nghe kém, ù tai, bức bách trong tai. Soi tai: màng nhĩ mất di động, dầy cộm, phồng hoặc phẳng hoặc lõm bất thường, mầu hồng xạm, xám, có thể thấy mức nước, múi dịch mủ trong hòm tai giữa, hoặc màng tai dính vào đáy hòm nhĩ. Ở trẻ nhỏ vì không phát hiện được triệu chứng khách quan nên bệnh dễ bị bỏ sót chẩn đoán, khi phát hiện có thể đã muộn, thường đã để lại di chứng.
Đo nhĩ đồ: Nhĩ đồ bẹt, hoặc đỉnh thấp nằm trên vùng áp lực âm bên trái. Thính lực đồ có nghe kém kiểu dẫn truyền, mất từ 25-40dB, ngôn ngữ chậm phát triển do không nghe được; Một số ít trường hợp có điếc thể thần kinh, do bệnh lý đã gây tổn thương tai trong.

Cơ chế bệnh lý

Trên những bệnh nhân OME các nhóm thông bào khí trong xương thái dương rất phát triển [ bao gồm nhóm tế bào xương chũm, nhóm quanh mê nhĩ, nhóm mỏm xương đá], dịch từ những nhóm thông bào này đổ vào tai giữa, rồi từ đây qua vòi nhĩ để xuống vòm mũi họng: Trong bênh cảnh viêm tai tiết dịch vòi nhĩ tắc, mất chức năng thông khí nên dịch ứ lại trong hòm tai giữa.

Theo Hentzer [9] niêm mạc tai giữa là niêm mạc đường thở biến dị, không còn lông chuyển - nonciliated cell - trong đó tế bào hình cốc đóng vai trò đặc trưng tiết nhầy của tai giữa và vòi nhĩ.

Viêm tai tiết dịch thường xẩy ra trên trẻ nhỏ có cơ địa dị ứng, miễn dịch kém: niêm mạc hô hấp mũi xoang tai giữa vòi nhĩ tăng tiết dịch. Dịch tiết từ hệ thống thông bào trong xương thái dương có một khối lượng khổng lồ, hòm tai giữa chỉ như một trạm trung chuyển dịch mà thôi. Dịch có thể nhày, thanh dịch, hoặc có dạng, keo dính, hoặc đổi mầu vì có nhiễm khuẩn.

Bệnh lý viêm tai tiết dịch này còn liên quan đến chứng trào ngược thực quản, dịch nhiễm khuẩn thức ăn có thể trào vào tai giữa qua vòi Eustachian, làm tăng tính viêm nhiễm phối hợp của viêm tai keo, gây bệnh kéo dài khó dứt.

Xử lý 

  1- Chích mở màng nhĩ ở ¼ sau dưới hoặc trước dưới, dẫn lưu dịch keo, đặt ống thông khí.
  2- Hút rửa khoang mũi họng điều trị nhiễm khuẩn đường hô hấp, vòi tai [ Kỹ thuật Thủy Trần ]

  3- Nạo VA nếu VA to che lấp vòi tai gây mất thông khí vòi tai.
  4- Chữa trào ngược thực quản: Cho trẻ ăn đúng cách: Chia nhỏ bữa, ăn trong tư thế đầu cao, bữa tối ăn cách xa giấc ngủ đêm khoảng 3 tiếng để tránh dịch thực quản trào lên mũi họng, qua vòi tai vào tai giữa.
Thính lực sẽ cải thiện ngay sau khi đặt ống thông khí, trừ trường hợp đã bị điếc kiểu thần kinh.

Theo rõi sau đặt ống thông khí

Thông thường ống thông khí có thể nằm lại trong màng tai lâu từ một vài tháng có khi lâu hơn nữa. Khi chức năng vòi nhĩ trở lại bình thường ống thông khí sẽ tự đẩy ra khỏi tai giữa và màng nhĩ sẽ tự liền lại.
Sau khi điều trị khỏi nhiễm khuẩn đường hô hấp trên tình trạng sức khoẻ của bệnh nhân hồi phục. Sự theo rõi không có một lộ trình đặc biệt về mặt thời gian, phụ thuộc vào mức độ chảy dịch và mủ. Nếu dịch tiếp tục chảy chỉ cần lau cửa tai bằng bông sạch, cắt tóc mai ngắn để tránh gây nhiễm trùng vào tai.
Nếu có mủ đặc là OME đã nhiễm khuẩn. Cần được điều trị kháng sinh uống, vệ sinh làm thuốc tai, hút rửa dịch nhày ứ đọng ở ống thông khí, tránh bít tắc. Bình thường ống thông khí nằm trong tai bệnh nhân êm ái không gây nên một dấu hiệu bất thường nào. Nếu đột nhiên bệnh nhân có sốt hoặc đau tai là báo hiệu ống thông khí bị bít tắc và dịch viêm bị ứ lại bên trong tai giữa: cần nội soi để làm vệ sinh hút rửa. Bệnh nhân điều trị theo qui trình trên đều khỏi bệnh.

Ở người lớn cao tuổi màng nhĩ sau quá trình viêm đã trở nên teo mỏng mạch máu nuôi dưỡng rất hạn chế, ống thông khí có thể không tự đẩy ra khỏi màng nhĩ trong một thời gian dài hơn những người trẻ tuổi, hoặc sau khi ống thông khí bật ra, tai khô nhưng màng tai khó liền lại.

Biến chứng của việc đặt ống thông khí rất hiếm khi xẩy ra.
Do những viêm nhiễm phối hợp của ống tai ngoài, do lượng mủ đặc keo dính, có áp lực mủ nhày lớn đột biến gây chệch vị trí ống thông khí, ống có thể bị đẩy ra ngoài ống tai ngoài hoặc lọt vào trong hòm nhĩ. Xử lý đặt lại ống thông khí vào đúng vị trí.

Biến chứng của viêm tai tiết dịch

- Nghe kém kiểu truyền âm, một số ít nghe kém kiểu tiếp âm.
- Viêm xương chũm: Nếu không được dẫn lưu dịch qua ống thông khí dịch keo ứ đọng trong tai giữa gây nên viêm tai giữa mủ và viêm xương chũm.
- Xẹp màng nhĩ vào thành trong hòm nhĩ gây nên nghe kém nặng vì hòm nhĩ và hệ thống các xương nghe của tai giữa trở nên một khối kết dính không còn giữ được chức năng truyền âm, gây điếc dẫn truyền nặng. Số ít có thể gây nên nghe kém kiểu tiếp nhận. 
- Chảy tai kéo dài và hay tái phát do trào ngược thực quản: bệnh lý này giống như cái bơm tự động không ngừng bơm dịch nhiễm khuẩn của đường tiêu hóa lên tai giữa qua vòi tai.
 
Kết quả điều trị

Với một tỷ lệ rất thấp bệnh nhân viêm tai keo có nghe kém kiểu tiếp nhận - hay còn gọi là kiểu thần kinh do quá trình viêm đã tấn công vào vùng tai trong việc đặt ống thông khí chỉ  là để dẫn lưu mủ dịch viêm ra khỏi cơ thể, thính lực sẽ không hồi phục.

Đại đa số trường hợp viêm tai keo nghe kém kiểu truyền âm, quá trình viêm keo chỉ khu trú ở tai giữa, sau khi đặt ống thông khí thính lực cải thiện ngay. Mủ và dịch viêm được đẩy ra ngoài cơ thể, sức khoẻ cải thiện, không để lại di chứng.

Một số ít bệnh nhân người lớn, do dị ứng tăng tiết dịch của các thông bào khí trong xương thái xương, do hội chứng trào ngược thực quản phối hợp gây nên tình trạng dịch tai chảy kéo dài, hoặc hay tái phát ống thông khí không tự đẩy ra khỏi màng tai.

Di chứng của viêm tai tiết dịch

Nếu không được điều trị đúng sẽ để lại di chứng gây xẹp màng nhĩ vào đáy nhĩ, nghe kém không hồi phục. hoặc chuyển thành viêm tai giữa mủ.


Không điều trị

Có một tỷ lệ nhỏ bệnh viêm tai keo có thể tự khỏi, có thể để lại di chứng nghe kém.
 



Ví dụ 1: Màng nhĩ trong viêm tai keo - chích màng tai đặt ống thông khí



Ví dụ 2: Viêm tai keo hai bên, điếc hỗn hợp 2 tai & nhĩ đồ bệnh lý

Ví dụ 3 - Viêm tai keo bên trái 
______________________________________________________


Ù TAI
Tinnitus


Trong bệnh học thuật ngữ ù tai là muốn nói đến thể ù tai có âm ở tần số cao. Trong thực tế người bệnh phàn nàn ù tai bao gồm cả những tiếng ù tai tiếng trầm:

Ù tai là triệu chứng của những tổn thương bệnh lý đã tác động đến những vi điểm tận cùng của thần kinh thính giác. Ù tai chủ quan là triệu chứng tự người bệnh cảm nhận thấy. Ù tai khách quan là tiếng ù người ngoài có thể nghe được, là âm thanh phát ra từ tiếng mạch máu đập bất thường quanh vùng tai hoặc do sự co thắt của các cơ vòi nhĩ.
 
Ù tai tiếng trầm có thể kèm theo đau tức trong tai là do viêm tắc vòi tai, viêm tai giữa, viêm tai keo, hoặc do bệnh của chuỗi xương nghe bị cố định trong bệnh xốp xơ tai (otosclerosis), hoặc những tiếng lách cách, hoặc cảm giác bí bách trong tâi gây nên do những khối ráy tai nút ống tai ngoài.
 
Ù tai có âm sắc tần số cao như tiếng ve kêu gây ra do những tổn thương đã xâm lấn vào vùng tai trong thường kèm theo điếc tiếp nhận, có thể kèm theo những rối loạn thăng bằng. Ở người cao tuổi ù tai thường gặp do cao huyết áp hoặc hạn chế nuôi dưỡng của mạch máu gây thiểu năng tuần hoàn mạch máu tai trong, sẽ kèm theo giảm thính lực ở tần số cao. Ở người trẻ chấn thương do âm thanh quá vang mạnh cũng dẫn đến ù tai. Ù tai có thể gây nên do bệnh dị ứng, bệnh đái tháo đường, bệnh tuyến giáp, chấn thương đầu cổ, đặc biệt là chấn thương xương thái dương, ngộ độc thuốc, phản ứng với các thuốc chống viêm, kháng sinh, thuốc giảm đau.

Ù tai do khối u giây thần kinh thính giác (VIII): Tiếng ù tai âm sắc cao, nghe như tiếng gió thổi, kéo dài từ ba tháng trở lên là triệu chứng của khối u giây thần kinh thính giác.
 
Điều trị
 
Việc điều trị ù tai sẽ khác nhau tuỳ thuộc nguyên nhân gây bệnh. Tuy nhiên, nguyên nhân không phải dễ xác định.
- Lời giải sẽ không khó khăn với những tiếng ù trầm nguyên nhân do viêm tai giữa, viêm tắc vòi nhĩ do viêm xoang, tắc vòi nhĩ do khối u vòm họng, xốp xơ tai thể truyền âm, nút ráy tai.
- Với những nguyên nhân tác động vào tai trong cần loại trừ khối u giây VIII. Với  những nguyên nhân còn lại, việc dùng thuốc được coi như phép thử. Những thuốc giúp tăng tuần hoàn mạch máu tai trong như: papaverine, divascol, stugerol, cavinton, Ringstop, Hearall, sinh tố nhóm B.

Cần chủ động tránh bệnh phát triển với những cách sau:
Tránh tiếng ồn, kiểm tra huyết áp, chế độ ăn giảm muối vì lượng muối cao tác động tiêu cực vào tuần hoàn máu, tránh chất kích thích như cà phê-rượu-thuốc lá, thể dục và nghỉ ngơi thích hợp.
 
Các thuốc điều trị ù tai là không hiệu quả.
_______________________________________________________________________________________

 

VIÊM MŨI XOANG
 

XOANG là gì? Là các hốc rỗng chứa khí có cấu trúc và kích thước to nhỏ nông sâu khác nhau nằm bên trong hộp xương sọ mặt, sau hai má, trán, sau vùng giữa rễ mũi và mắt. Xoang hàm và xoang trán có kích thước lớn, xoang sàng được chia thành nhiều nhóm nhỏ và xoang bướm nằm sâu nhất trong nền sọ. Các xoang này được nối thông trực tiếp và gián tiếp vào hốc mũi bởi các lỗ thông xoang rất nhỏ qua những khe hẹp.
 
 H1

H2
                             
CHỨC NĂNG CỦA XOANG là gì? Các hốc xoang rỗng làm giảm trọng lượng họp sọ, là thành phần của hộp cộng hưởng tạo âm thanh giọng nói [H1,H2]. Lót trong lòng xoang là niêm mạc hô hấp tiết dịch nhày sinh lý, phủ liên tục đến lỗ xoang, hốc mũi họng thanh quản, tác dụng làm ấm, làm ẩm không khí hít thở vào cơ thể, cung cấp oxy nuôi dưỡng não và hệ cơ xương, mạch máu.
 
VIÊM MŨI XOANG  gì? Màng niêm mạc lót trong lòng các hốc xoang bị nhiễm trùng, siêu vi trùng hoặc do dị ứng trở nên phù nề tăng tiết dịch, dịch loãng, rồi đặc hoặc hóa mủ, đường kính các lỗ xoang viêm trở nên càng nhỏ và dễ tắc. Mủ & dịch viêm không qua được lỗ thông gây hiện tượng ứ đọng ô nhiễm trong xoang, đồng thời gây phù viêm niêm mạc hốc mũi. Bệnh lý luôn xẩy ra ở hai vùng kế cận này nên gọi tên bệnh là viêm mũi xoang.
 
NGUYÊN NHÂN VIÊM MŨI XOANG
- Dị ứng,
- Nhiễm khuẩn, siêu vi trùng, nhiễm nấm
- Do cấu trúc bất thường của vách ngăn, cuốn mũi, mỏm móc
  góp phần làm tăng lên sự bít tắc thông khí giữa mũi và xoang.
- Do bệnh lý trào ngược dạ dầy thực quản
 
TRIỆU CHỨNG VIÊM MŨI XOANG là gì? Triệu chứng đầy đủ là dấu hiệu tắc mũi, chảy mũi mủ, khụt khịt, đau vướng họng, có đờm, ho, có thể ù tai, đau tai. Khi dịch viêm trong xoang không ra ngoài được theo đường tự nhiên, triệu chứng nổi bật chỉ là đau đầu.  Nhiều trường hợp bệnh kín đáo không có triệu chứng tắc mũi chẩy mũi, chỉ bộc lộ bệnh ở vùng láng giềng như đau tai, ù tai, đau họng, ho, đờm.
 
CHẨN ĐOÁN VIÊM MŨI XOANG có khó không? Nếu có tắc mũi, chảy mũi mủ thì ai cũng chẩn đoán được bệnh.  Nếu triệu chứng kín đáo, hoặc chỉ đau đầu, hoặc chỉ bộc bệnh ở họng, thanh quản, ho kéo dài, hoặc ù tai đau tai thì ngay cả nhà chuyên môn cũng có thể bỏ sót bệnh viêm mũi xoang.
Phim X quang rất có giá trị chẩn đoán. Tuy nhiên có từ 35-40% bệnh viêm mũi xoang hình ảnh mủ & màng viêm dầy không bộc lộ rõ trên phim [H3].
 
 H3
 
Chẩn đoán xác định: Nội soi ống cứng có chuẩn bị với bông thuốc làm giảm đau & giảm sưng phù đưa ống hút rửa vào các khe mũi, lỗ xoang, sẽ bộc lộ rõ mủ, bệnh lý viêm ẩn náu kín trong những góc khuất của hốc mũi.
 
ĐIỀU TRỊ   1- Nội soi ống cứng hút rửa hốc mũi xoang loại bỏ mủ dịch viêm với nước muối sinh lý 0,9% & dung dịch kháng sinh [theo qui trình Kỹ thuật Thủy Trần]

                2- Chỉ định mổ bảo tồn chức năng FESS [Functional Endoscopic Sinus Surgery, H5] trên bệnh nhân có polip mũi hoặc những dị hình giải phẫu hốc mũi gây cản trở dẫn lưu thông khí mũi xoang [dầy vẹo vách ngăn, quá phát mỏm móc, xoang hơi cuốn giữa..] và chăm sóc sau mổ với Kỹ thuật Thủy Trần.
_________________________________________________________________

VIÊM MŨI XOANG DỊ ỨNG 
Allergic Rhinitis

 
Là bệnh cảnh viêm mũi xảy ra trên người có cơ địa dị ứng, chiếm tỷ lệ cao nhất trong các bệnh dị ứng khác trên cơ thể và là bệnh có tỷ lệ cao trong dân số.
Viêm mũi dị ứng là phản ứng quá mẫn cảm của niêm dịch mũi xẩy ra khi có kích thích của độc tố hoặc vật chất lạ qua trung gian là kháng thể [Antibody] IgE [Immunoglobulin]. Độc tố hoặc những vật chất lạ gây nên phản ứng dị ứng được gọi là những dị nguyên [Antigen]; chúng vốn có trong môi trường tự nhiên như bụi nhà, phấn hoa, lông vũ, hóa chất, thực phẩm và đặc biệt phổ biến là dị ứng với sự đổi thay giao mùa của thời tiết. Vật chất lạ này còn có thể nẩy sinh tại chỗ do quá trình viêm sinh ra như vi khuẩn, dịch tiết, mủ. Tỷ lệ mắc bệnh dị ứng theo mùa thường xảy ra với trẻ sau 2 tuổi, nặng dần khi lớn lên và rất nặng ở tuổi già. Bệnh dị ứng còn mang yếu tố di truyền trong gia đình, tuy nhiên hình thái biểu hiện bệnh có thể khác biệt giữa các cá thể: hoặc là viêm mũi dị ứng, hoặc hen phế quản, nổi mẩn ngứa hoặc những bệnh lý dị ứng khác.
Ở giai đoạn đầu của bệnh tác động kích thích đã sinh ra sự đáp ứng miễn dịch qua vai trò trung gian của kháng thể IgE diễn ra trong niêm mạc mũi, một quá trình miễn dịch đã hình thành và bộc lộ bằng phản ứng dị ứng. Phản ứng này tác động vào hệ thần kinh, các tuyến bài tiết, mạch máu gây nên những biến động lâm sàng của bệnh như hắt hơi, ngứa mũi, chảy mũi, tắc mũi; Tập chứng này xuất hiện là bộc lộ giai đoạn đáp ứng dị ứng [Allergic Response] của cơ thể.
Nếu những yếu tố kích thích dị ứng tái diễn bệnh lý sẽ trở nên nặng dần và luôn có sự bội nhiễm vi khuẩn kèm theo. Lúc này vi khuẩn và mủ trở nên một yếu tố mới tại chỗ gây kích thích dị ứng gọi là dị nguyên tại chỗ.
Những dị hình cấu trúc bên trong hốc mũi như gai vách ngăn, dầy vẹo vách ngăn, quá phát các cuốn mũi, mỏm móc, bóng sàng là những yếu tố thuận lợi làm cho khoảng không trong hốc mũi bị thu hẹp và vì vậy sự thông khí càng trở nên nặng hơn khi cơn dị ứng xảy ra.

 ___________________________________________________________________

VIÊM MŨI XOANG DỊ ỨNG MẠN TÍNH
Allergic Chronic Rhinosinusitis

 
Hốc mũi nối thông với hệ thống các xoang bởi các khe hẹp tạo thành một chuỗi các khoang rỗng liền kề được lót trong lòng bởi cùng một loại màng niêm mạc biểu mô đường thở do vậy những viêm nhiễm niêm mạc mũi lâu ngày luôn gây viêm niêm mạc trong xoang. Phản ứng dị ứng của niêm mạc xảy ra tái diễn cũng không dừng lại ở hốc mũi. Vì lý do này ngành tai mũi họng thế giới [1997] đã đặt tên cho bệnh cảnh viêm nhiễm đồng thời xảy ra trên cả hai vùng mũi và xoang là viêm mũi xoang mạn tính [Chronic Rhinosinusitis- CRS]. Viêm mũi xoang mạn tính có nguyên nhân dị ứng được gọi là viêm mũi xoang dị ứng mạn tính [Allergic Chronic Rhinosinusitis]. Tuy nhiên, quá trình xảy ra phản ứng dị ứng trên niêm mạc mũi xoang luôn mang theo hậu quả nhiễm khuẩn, sinh mủ trong xoang và một tên gọi đầy đủ hơn sẽ là viêm mũi xoang dị ứng nhiễm khuẩn mạn tính.
 
Viêm mũi xoang dị ứng đồng thời có tỷ lệ khá cao nhiễm nấm. Lý do dễ nhiễm nấm là vì những bệnh nhân dị ứng khả năng miễn dịch giảm. Theo thống kê của Trần Lệ Thủy vào mùa ẩm ướt tháng ba năm 2009 tại Hà Nội, tỷ lệ nhiễm nấm trên bệnh nhân viêm mũi xoang dị ứng là 80%[ 24/30 bệnh nhân, soi tươi: nhiễm nấm Candida Albican]
 
TRIỆU CHỨNG
 
Triệu chứng tại mũi
 
Phản ứng miễn dịch xảy ra đã làm cho niêm mạc mũi trở nên phù nề dầy cộm gây  thiếu thở, dịch xuất tiết niêm mạc mũi tuôn trào kích thích hắt hơi, ngứa mũi, chảy nước mắt vì tắc ống mũi mắt, đau nhức đầu vì các lỗ xoang tắc, dịch bài tiết sinh lý ứ đọng tạo thành mủ trong xoang. Dịch mũi xoang chảy xuống thành sau họng gây ho, đau rát họng, ngứa họng.
Khi mũi xoang viêm dị ứng đã bội nhiễm vi khuẩn triệu chứng kèm theo là chảy mũi mủ, đờm đặc.

Triệu chứng đơn thuần ở họng

Có một dạng lâm sàng đặc biệt khác của viêm mũi xoang dị ứng là trên những người bệnh này không bộc lộ những cơn hắt hơi, chảy mũi, tắc mũi, chỉ có triệu chứng ho, đau rát họng, có dịch chảy sau họng. Triệu chứng bệnh xuất hiện vào những thời điểm giao mùa và luôn tái diễn.
 
Khám nội soi hốc mũi
 
Trong đợt dị ứng hốc mũi rất chật hẹp vì toàn bộ niêm mạc phù sũng và tăng tiết dịch, ngoài đợt dị ứng có thể thấy mầu sắc niêm mạc nhợt nhạt, có thể niêm mạc biến đổi thành polip. Cần đặt bấc có thấm thuốc giảm phù nề niêm mạc như Adrenalin0,1% và thuốc giảm đau lidocain 2% vào hốc mũi các khe mũi để có thể soi kỹ các khe mũi, sàn mũi, tình trạng các lỗ xoang. Hút rửa hốc mũi để phát hiện  mủ viêm ẩn náu sau các góc khuất. Đánh giá hình dáng kích cỡ bất thường các cầu trúc liên quan đến sự thông khí mũi xoang.
Có thể có polip mũi..
 
Xquang
 
Cần chụp Xquang để đánh giá tình trạng niêm mạc dầy do dị ứng, có thể có polip trong xoang, dịch viêm, mủ hoặc khối nấm. Tuy nhiên theo Aygun và Zinreich chỉ 70-80% trên phim cắt lớp  CT Scan hình ảnh viêm xoang  phản ảnh rõ rệt.
 
Xét nghiệm vi sinh
 
Có tỷ lệ nhiễm nấm candida cao.
 
Triệu chứng toàn thân
 
Mệt mỏi, có thể kèm theo đau nhức cơ bắp.
Thường có kèm theo bệnh cảnh trào ngược dạ dầy thực quản[ GERD].
 
ĐIỀU TRỊ
 
Điều trị viêm mũi xoang dị ứng là một thách thức đối với cả thầy thuốc và người bệnh! Có ai đó quá bi quan đã ví bệnh dị ứng mũi xoang như “lũ lụt” và an ủi bạn hãy sống chung với nó [?].
 
Không phải như vậy!
 
Lời giải sẽ là sáng sủa khi bạn xác định đây là bệnh lý tại chỗ trên một người có cơ điạ dị ứng; trong đó những dị nguyên kích thích tại chỗ đã đóng góp vai trò chính yếu gây nên triệu chứng bệnh dị ứng mũi xoang. Điều trị loại bỏ những dị nguyên này là việc có thể thực hiện hữu hiệu bởi các thầy thuốc tai mũi họng. Dị nguyên tại chỗ bao gồm: Một là vi khuẩn, mủ và dịch viêm; Hai là những bất thường của cấu trúc bên trong hốc mũi gây nên sự bít tắc dẫn lưu dịch mũi xoang, đóng vai trò như một gai kích thích dị ứng niêm mạc mũi.
 
Phần còn lại rất quan trong nhưng rất khổ công để thực hiện đó là điều trị giải mẫn cảm làm tăng khả năng miễn dịch của cơ thể - là phần việc của các nhà thầy thuốc miễn dịch dị ứng.
 
Điều trị loại bỏ dị nguyên tại chỗ
 
Là nhóm những giải pháp sau cần phối hợp điều trị tích cực để loại bỏ dị nguyên tại chỗ gây viêm dị ứng là thiết thực chữa dị ứng mũi xoang.
 
1/ Thuốc kháng sinh, Corticoid chống viêm và kháng histamine tổng hợp dạng uống để chống viêm dị ứng, làm cho niêm mạc mũi giảm phù nề, giảm tiết dịch. Thuốc kháng sinh đặc trị chống nấm cho những bệnh nhân thử nghiệm vi sinh có nấm dương tính. Thuốc chống trào ngược dạ dầy thực quản trên những người mắc thêm chứng bệnh này.
2/ Lấy đi khối lượng mủ ứ đọng trong xoang bằng cách hút rửa mũi xoang hệ thống với Natri Clorid 0,9%, dung dịch kháng sinh và Hydrocortison [ Kỹ thuật Thủy Trần ] nhỏ mũi và khí dung mũi. Niêm mạc xoang dị ứng rất dầy, sẽ còn tiếp tục tiết dịch nhầy sau khi đã hết mủ. Lượng dịch nhày đặc không tự dẫn lưu được ra ngoài do đó việc hút rửa vẫn cần tiếp tục cho đến lúc mũi xoang thông khí, niêm mạc trong xoang trở lại độ dầy bình thường.

3/ Phẫu thuật FESS
- Đánh giá tình trạng bất thường của giải phẫu hốc mũi, đặc biệt là vùng phức hợp các lỗ thông xoang [OMC]: Nếu có tắc nghẽn đường dẫn lưu của các xoang cần đưa ra chỉ định điều trị phẫu thuật nội soi chức năng phối hợp [ Phẫu thuật FESS ] để loại bỏ những nút bít tắc, đưa mủ viêm, nấm ra khỏi xoang, lập lại sự thông khí của mũi xoang. Chăm sóc sau mổ với một qui trình hút rửa mũi xoang.
- Cắt bỏ polip mũi nếu có.
 
KẾT QUẢ
 
Là khả quan. Các triệu chứng bệnh thoái lui, chức năng mũi xoang trở lại bình thường. Nếu những kích thích dị ứng từ môi trường còn tái diễn bệnh nhân vẫn có thể gặp lại triệu chứng dị ứng mũi xoang nhưng chỉ còn là phản ứng dị ứng rất nhẹ.
 
Điều trị dị ứng miễn dịch
 
Đây là lĩnh vực của các nhà chuyên khoa dị ứng miễn dịch.
Những bệnh nhân dị ứng toàn thân nặng có thể đến các trung tâm dị ứng miễn dịch để điều trị tiếp tục. Họ sẽ được thử những nghiệm ứng da để tìm ra các loại vật chất gây dị ứng. Trên cơ sở này họ sẽ được chỉ định điều trị một chương trình dài hạn bằng phương pháp giải mẫn cảm: đưa vào cơ thể những liều nhỏ những dị nguyên gây dị ứng để trong cơ thể người bệnh sẽ sinh ra kháng thể chống bệnh. Quá trình điều trị này cần nhiều năm tháng.
 

 H1 - Nấm cư trú trong xoang hàm trái

 H2 - Mủ hút từ xoang hàm bên phải
 
 
 H3

H4
H3, H4: Kết quả hồi phục hoàn toàn sau điều trị theo Kỹ thuật Thủy Trần
_____________________________________________________________
 
NHỮNG THỂ VIÊM XOANG KHÓ CHỮA KHỎI DỨT ĐIỂM

Chẩn đoán và điều trị khỏi triệt để viêm mũi xoang là một vấn đề thách thức với mọi thầy thuốc tai mũi họng trên thế giới, kể cả những người làm chủ được kỹ thuật cao và những cách chăm sóc hút rửa mũi xoang tích cực nhất.


1/ Viêm mũi xoang dị ứng: Bạn có thể loại bỏ các yếu tố kích thích dị ứng tại chỗ là khối mủ nhiễm trùng và những dị hình cấu trúc bên trong hốc mũi để sự giao lưu giữa hệ thống xoang và hốc mũi trở nên thông thoáng, nhưng bệnh dị ứng toàn thân của bạn vẫn là một bài giải lâu dài khó hứa hẹn, ít nhiều chúng vẫn có tác động vào niêm mạc mũi xoang.

2/ Viêm mũi xoang dị ứng nhiễm nấm: Bệnh này ngoài cái khó chữa trị như viêm mũi xoang dị ứng đã nói trên bạn còn mắc một bệnh khác khó chữa là nhiễm nấm: Nấm dễ sinh trưởng trong môi trường mũi xoang dị ứng, vì ở những người này khả năng miễn dịch của họ rất thấp: Nấm luôn tái phát.

3/ Viêm mũi xoang có polyp: Polyp là một dạng u phát triển từ niêm mạc mũi xoang viêm nhiễm do dị ứng phát triển thành những khối u có kích cỡ lớn nhỏ khác nhau. Polyp mũi gây tắc nghẽn lưu thông mũi xoang, gây nhiễm khuẩn. Phẫu thuật cắt polyp là cần thiết để thông khí, để dịch mủ viêm ứ tắc trong hệ thống các hốc xoang. được loại bỏ. Tuy nhiên những khối polyp này là sản phẩm của một bệnh lý dị ứng niêm mạc hô hấp dễ tái phát. Sự điều trị cổ điển là phối hợp các thuốc Corticoid, thuốc chống dị ứng,  kháng sinh  và phẫu thuật. Các kết quả điều trị còn hạn chế, sự tái phát của polyp mũi vẫn còn là một bài toán khó giải.
Trần Lệ Thủy : Cắt Polyp mũi để thông khí, mở đường để nội soi hút rửa cả hệ thống mũi xoang theo một qui trình, loại bỏ sự nhiễm khuẩn ( Kỹ thuật Thủy Trần ), chính là yếu tố gây dị ứng tại chỗ tránh để polyp có thể tái phát. Đây là một giải pháp tích cực và hiệu quả.

Ngày nay, có sản phẩm đặc trị mới là Dupixent - từ Dupilumab. Bệnh nhân tham gia điều trị với Dupixent cần trải qua thăm khám miễn dịch dị ứng để có chỉ định đúng, tránh tác dụng phụ. 

Dưới đây là trích dẫn tài liệu về Dupixent, sản phảm mới điều trị viêm mũi xoang có polyp của nhà sản xuât thuốc SANOFI. Bạn đọc có thể tham khảo chi tiết về tác dụng thuốc, giá thuốc......

 


4/ Viêm mũi xoang trong đó quá trình viêm đã xâm lấn vào màng xương
Các nghiên cứu đã xác định về mặt tế bào: quá trình viêm mũi xoang ngoài những tổn thương lớp niêm mạc tiết nhầy, bệnh còn phát triển đến viêm xương.

___________________________________________________________


HÌNH ẢNH X QUANG TRONG VIÊM MŨI XOANG MÃN

Chronic Rhino Sinusitis - CRS

X quang và CT Scan sẽ xẩy ra những trường hợp sau: lý tưởng cho chẩn đoán là hình ảnh bệnh lý dương tính cả trên nội soi hốc mũi và hình ảnh bệnh lý trên phim. Cũng có thể hình ảnh nội soi và trên phim x quang đều âm tính nhưng triệu chứng lâm sàng lại điển hình của bệnh CRS. Phim điện quang thường có thể phản ánh tình trạng CRS. Phim chụp cắt lớp vi tính, đặc biệt tốt trong đánh giá bệnh lý giải phẫu xương vùng sàng, trán, bướm và vùng các lỗ ngách, phát hiện những vách ngăn trong lòng xoang hàm. Tuy nhiên, phim CT chỉ cung cấp hình ảnh cấu trúc xương và những bệnh lý viêm mũi xoang điển hình như khối nấm, khối mủ đậm đặc.  Hình ảnh mủ dịch viêm và niêm mạc viêm dầy trong hệ thống xoang không phải lúc nào cũng được phản ảnh rõ trên phim [2]. Theo Aygun và Zinreich hình ảnh bệnh lý chỉ phản ánh trên phim CT với tỷ lệ từ 70-80% số bệnh nhân CRS; Ngược lại có những trường hợp bệnh lý X quang rất điển hình nhưng trên bệnh nhân lại chưa có triệu chứng lâm sàng của bệnh [1].

 

Ví d 1:  CRS trên phim X.quang hình nh viêm không đin hình

 

 

  Ví d 2: CRS vi triu chng  hng & đau đu

M đc đang được ly ra t xoang hàm trái trong khi trêphim

không rõ bnh lý xoang hàm hai bên.

 

1. Aygun N., Zinreich SJ., Radiology of The Nasal Cavity and Paranasal Sinuses. In Cummings Otolaryngology Head and Neck Surgery, Mosby E. ed. Fifth ed., 2010, Volume I, pp: 662- 681

2. Thy TL, K thut điu tr ti ch viêm mũi xoang mn tính theo Thy Trn, Ni san Hi Ngh Khoa Hc Tai Mũi Hng Toàn Quc 2012, TP. Huế 8-9/6/2012, pp: 180-185.

_______________________________________________________________


PHẪU THUẬT NỘI SOI MŨI XOANG TỐI THIỂU

Minimally Invasive Sinus Technique ( MIST)

Mổ nội soi mũi xoang tối thiểu - Minimally Invasive Sinus Technique (MIST) là một kỹ thuật bảo tồn chức năng xoang. Bản chất của MIST  là chỉ can thiệp cắt một phần mặt bên cuốn mũi giữa (Lateral side of Middle Turbines) hoặc một phần quá phát của mỏm móc (A part of Uncinate Process) hoặc cắt những khối Polyp ở vùng này sao cho khe mũi giữa (Middle Meatus) không bị chít hẹp, để dịch viêm trong xoang được dẫn lưu ra ngoài hốc mũi.
Ưu điểm của kỹ thuật này là giữ được chức năng sinh lý của qui trình bài tiết dịch từ trong hệ thống xoang trước ra hốc mũi. Tuy nhiên, MIST có nhược điểm là đường mở dẫn đến hệ thống xoang  là khá hẹp. Để bù lại nhược điểm này của MIST, Kỹ thuật nội soi hút rửa mũi xoang Thủy Trần (ThuyTran Technique -TTT) đã được ứng dụng để chăm sóc hiệu quả sau mổ.


Điều  trị phối hợp giữa MIST và TTT đã mang lại những kết quả bền vững trong điều trị tại chỗ viêm mũi xoang mạn tính và an toàn.


CHỈ ĐỊNH:
Trên bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính, mũi xoang dị ứng, hoặc nhiễm nấm: polip mũi hoặc những cấu trúc bất thường nói trên gây cản trở đường dẫn lưu tự nhiên của dịch viêm từ trong hệ thống xoang trước ra hốc mũi.
 
KỸ THUẬT:
Là kỹ thuật mổ nội soi với ống cứng 0 & 30 độ, gây tê tại chỗ, an toàn: Cho phép thực hiện tại cơ sở ngoại khoa ngoài bệnh viện với điều kiện vô khuẩn và trang thiết bị hiện đại.

 



__________________________________________________________________________

KỸ THUẬT THỦY TRẦN

Mục đích
Mặc dù với sự phát triển không ngừng của kỹ thuật hiện đại và công nghệ mới, bệnh lý viêm mũi xoang vẫn luôn là một vấn đề thách thức đối với mỗi nhà chuyên khoa Tai Mũi Họng ở trong nước và thế giới. Xuất phát từ thực tiễn này chúng tôi khởi thảo một qui trình kỹ thuật nội soi chức năng mũi xoang sao cho nhà chuyên môn có thế quan sát được bệnh lý viêm mũi xoang từ những góc khuất của cấu trúc, làm sáng tỏ chẩn đoán và có thể điều trị triệt để loại bỏ ổ nhiễm khuẩn trong hệ thống xoang, lập lại sự thông khí mũi xoang.

Kỹ thuật Thủy Trần được khởi thảo năm 2002.  Kết quả nghiên cứu & áp dụng kỹ thuật đã được báo cáo tại Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Ngành Tai Mũi Họng Toàn Quốc [
2003, 2012, 2013, 2014, 2015, 2016]. Hội nghị Khoa học thế giới năm 2016. Năm 2013 được cấp giấy chứng nhận quyền tác giả.
 


 
Cơ sở khoa học
 
Hệ thống xoang là những khoang rỗng chứa khí nằm sâu bên trong hộp xương sọ mặt, mỗi xoang có lỗ thông tự nhiên mở qua những khe hẹp dẫn ra hốc mũi. Trong viêm mũi xoang niêm mạc lót trong những cấu trúc này sưng phù làm cho những khe hẹp, lỗ xoang càng trở nên chật hẹp dễ bít tắc, dịch sinh lý trong xoang ứ đọng hóa mủ không có đường thoát ra ngoài. Thêm vào đó là những dị hình giải phẫu hốc mũi góp phần gây gia tăng bệnh lý tắc nghẽn. Mức độ và vị trí của sự mất lưu thông này là không giống nhau giữa các cá thể do đó triệu chứng viêm mũi xoang bộc lộ trên người bệnh là đa dạng gây khó định bệnh và rất khó chữa khỏi triệt để. Khám với kỹ thuật nội soi thông thường chỉ có thể nhìn thấy hình ảnh mặt chính diện của hốc mũi, không kiểm soát được bệnh lý viêm nhiễm ẩn ở mặt sau, mặt dưới, các góc khuất, các khe mũi, vòi nhĩ, các xoang. Kỹ thuật Thủy Trần là một qui trình nội soi mũi xoang ống cứng có chuẩn bị với tư thế nằm thích ứng, thuốc giảm phù nề, giảm đau, hút rửa hốc mũi xoang, cho phép quan sát những bệnh lý viêm nhiễm từ những góc sâu kín của hốc mũi xoang để xác chẩn & điều trị tại chỗ triệt để loại bỏ ổ mủ trong xoang, lập lại sự thông khí mũi xoang như tự nhiên.
 
 


ỐNG HÚT THỦY TRẦN NHỎ CONG 1,5mm
(CTY KARL STORZ SẢN XUẤT LẠI)






 
Ứng dụng
 
1/ Trong chẩn đoán
Triệu chứng viêm mũi xoang mạn tính rất đa dạng. Nhiều trường  hợp bệnh lý chỉ bộc lộ triệu chứng ở tai hoặc ở họng, thiếu vắng triệu chứng bệnh ở mũi. Khám nội soi có chuẩn bị với kỹ thuật Thủy Trần cho phép nhà chuyên môn quan sát được tổn thương ẩn náu sau các góc khuất của cấu trúc giải phẫu mũi xoang, cho phép xác định nguồn bệnh gốc viêm mũi xoang.

2/ Trong điều trị
Là giải pháp điều trị tại chỗ an toàn và triệt để ổ viêm mũi xoang mạn tính và những biến chứng của bệnh này gây ho kéo dài, viêm họng, viêm thanh quản, viêm tắc vòi tai và tai giữa.
Giải pháp điều trị này đã hạn chế dùng kháng sinh toàn thân

3/ Kết hợp ngoại khoa: Ưu điểm của kỹ thuật mổ nội soi chức năng FESS [ Functional Endoscopic Sinus Surgery] sẽ trở nên hoàn hảo khi được chăm sóc tích cực sau mổ với kỹ thuật nội soi chức năng mũi xoang Thủy Trần.

4/ Điều trị an toàn hiệu quả nhanh bệnh lý nhiễm khuẩn đường hô hấp trên ở trẻ em.

Kết quả điều trị tại Clinic Thủy Trần
 
- Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán viêm mũi xoang mạn tính đã tham gia điều trị theo đúng qui trình kỹ thuật Thủy Trần đều khỏi bệnh hoàn toàn.
- Mũi xoang và đường hô hấp trở nên thông thoáng đã cung cấp đủ oxy cho cơ thể, sức khỏe cải thiện rõ.
- Sắc da trở nên sáng đẹp.
- Mắt, mặt, rãnh mũi má hết phù sưng, chiều ngang mặt trở nên gọn đẹp.

Phim X quang cắt lớp chụp hệ thống xoang trước và sau điều trị:
 
Bn TXD - nam, sinh năm 1980 
Trước điều trị


Sau điều trị



Kết quả hồi phục hoàn toàn sau điều trị
_______________________________________________________________________

NHỮNG BỆNH LÝ DO VIÊM MŨI XOANG
 
Viêm vòi nhĩ & Viêm tai giữa
 
Vòm mũi họng được nối thông với tai giữa bởi vòi nhĩ - Eustachian Tube - dài 3,7cm.
 [H1] Chức năng của vòi nhĩ là cân bằng áp xuất giữa hòm tai giữa với môi trường duy trì sự truyền âm, bảo vệ tai giữa tránh những âm quá lớn, bài tiết dịch nhày sinh lý từ hòm nhĩ ra mũi họng. Bình thường vòi tai chỉ mở khi ngáp & nuốt. Trong bệnh lý viêm mũi xoang vùng cửa loa vòi nhĩ là nơi tập kết mủ dịch viêm gây phù nề vòi nhĩ, tắc vòi nhĩ rồi dẫn đến viêm tai giữa. Vì mối liên quan này, mỗi triệu chứng viêm tắc vòi tai như ù tai, ngứa tai, nghe kém, đau tai hoặc viêm tai giữa đều gián tiếp phản ánh một tình trạng viêm mũi xoang tiềm ẩn. Bệnh lý xoang là có trước, là nguyên nhân gây viêm vòi nhĩ và tai giữa [H3,H4].

 
H1- Tai giữa thông với vòm họng qua vòi tai

 
H2 - Mủ chảy từ mũi xoang xuống họng



H3 - Mủ hút từ xoang hàm trái


H4 - Viêm mũi xoang & viêm tai keo
 Triệu chứng viêm xoang ẩn trên bn nghe kém, ù tai
 
 
 Ho kéo dài
Có thể chữa khỏi không?
Ho là phản xạ tự bảo vệ đường hô hấp, co thắt tự nhiên để tống ra ngoài những vật chất lạ gây kích thích niêm mạc họng và thanh quản, phế quản. Những vật chất lạ này là dịch mủ viêm ở các dạng khô, đặc, keo dính từ hệ thống mũi xoang viêm mạn tính tràn xuống dưới [H2], hoặc do các viêm nhiễm của đường hô hấp dưới, hen, lao, khối u. Ngoài ra có sự tham gia của dịch viêm dạ dầy thực quản trào ngược lên. 
Ho kéo dài do viêm mũi xoang mạn tính chiếm tỷ lệ rất cao, là thuộc chuyên khoa TMH.
Cách điều trị là chữa nguyên nhân, rửa hốc mũi xoang và khoang họng loại bỏ ổ nguồn bệnh triệt để với Kỹ thuật Thủy Trần. Kháng sinh uống & thuốc ho ít tác dụng.
 
Viêm họng mạn
Nguyên nhân từ đâu?
 
Viêm họng mạn là do đâu? [H2]
Viêm họng mạn và viêm thanh quản mạn viêm Amidan đều có nguồn gốc từ viêm mũi xoang mạn. Do vậy muốn hết các triệu chứng bệnh ở những vùng này cần tìm nguồn viêm mũi xoang mạn để chữa trị bệnh gốc. Ở đây thường dễ xẩy ra sự nhầm lẫn, bỏ sót bệnh viêm mũi xoang vì trên những bệnh nhân này thiếu các triệu chứng tắc mũi hoặc chẩy mũi mủ. Các dị hình giải phẫu như cuốn mũi và mỏm móc quá phát luôn bít kín đường đào thải dịch mũi xoang ra mặt trước hốc mũi, dịch chỉ chảy xuống họng đã góp phần gây nên hình ảnh viêm mũi xoang triệu chứng không điển hình.
Xác định bệnh và điều trị viêm mũi xoang khỏi chắc chắn sẽ khỏi viêm họng thanh quản và amidan.
 
Đau đầu do viêm mũi xoang
 
Không phải ai viêm xoang cũng bị đau đầu.
Đặc biệt khó chẩn đoán ra bệnh viêm mũi xoang khi trên bệnh nhân không có các triệu chứng khác của bệnh này. Đau đầu do xoang dữ dội, bất thường, có thể vào buổi sáng, hoặc trường diễn, hoặc tăng mức độ đau khi thời tiết thay đổi. Có thể có điểm đau rất nhạy cảm vùng mặt, khu trú quanh mắt, trán, má, vùng gáy, đặc biệt thấy choáng váng khi thay đổi tư thế đầu, cúi hoặc đưa đầu ra trước, mặt có thể sưng.
Chẩn đoán
-    Chụp X quang
-    Nội soi rửa hốc mũi bằng Kỹ thuật Thủy Trần để xác định viêm mũi xoang
     
Điều trị Viêm mũi xoang [H5] 
 

 
H5 - Viêm xoang triệu chứng thiếu
_______________________________________________________________

CÁC BỆNH NHIỄM KHUẨN TAI MŨI HỌNG
Otolaryngology Infectious Diseases
 
Bản chất những bệnh nhiễm trùng và dị ứng vùng tai mũi họng
Nhiễm trùng tai mũi họng là bệnh lý tại chỗ, diễn ra trên màng niêm mạc lót bên trong hòm tai giữa, vòi tai, hệ  thống các khe rỗng có hình thái kích cỡ khác nhau mở từ khoang mũi họng vào các hốc xoang. Vì những cấu trúc này liền kề, thông với nhau nên những viêm nhiễm ở vùng này không chỉ dừng lại ở một bộ phận. Với những người có cơ địa dị ứng sự nhiễm trùng trở thành một yếu tố kích thích dị ứng làm cho các màng niêm mạc nói trên trở nên phù sưng dày lên bất thường, các khe mũi xoang sẽ chít hẹp dữ dội và thông khí mũi xoang giảm mạnh hơn so với người bị nhiễm khuẩn đơn thuần. Loại bỏ nhiễm khuẩn trong xoang là một cách thiết thực loại bỏ dị ứng mũi xoang.
 
Thế nào gọi là điều trị tích cực ?
- Với viêm tai giữa - Otitis Media và viêm tai keo ( viêm tai tiết dịch ) - Otitis Media with Effusion: cần chích rạch màng tai để dẫn lưu dịch keo và mủ ra khỏi hòm tai giữa - đặt ống thông khí, chữa viêm mũi xoang nạo bỏ tổ chức VA để vòi nhĩ trở nên thông thoáng, trả lại sức nghe, tránh được biến chứng điếc, viêm màng não, áp xe não.
- Với viêm xoang mạn tính - Chronic Rhino Sinusitis : Điều trị kháng sinh chỉ có tác dụng chữa viêm mũi xoang cấp và ít tác dụng trong điều trị viêm xoang mạn tính. Nội soi điều trị:  Hốc mũi bệnh nhân được đặt thuốc giảm đau và giảm phù nề niêm mạc sao cho các khe mũi dẫn vào các xoang được mở rông có thể đưa các ống hút có kích thước nhỏ đi sâu vào xoang, hút rửa đưa mủ ra ngoài, cho dung dịch kháng sinh vào hốc mũi xoang. Những cầu trúc bất thường của khe mũi hoặc polyp trong mũi gây rào cản đường thở và quá trình rửa xoang có thể được xem xét cho chỉ định phẫu thuật tối thiểu nhằm tạo nên một lối đi đủ rộng cho việc rửa xoang hiệu quả. Giải pháp chúng tôi lựa chọn là kỹ thuật nội soi Thủy Trần để điều trị tại chỗ viêm mũi xoang mạn tính hiệu quả.
- Với viêm họng mạn tính, ho kéo dài, dịch chảy sau họng hoặc viêm amidan mạn tính: thực chất đây chính là hậu quả của viêm mũi xoang mạn tính, chữa khỏi mũi xoang là khỏi hẳn những viêm nhiễm thứ cấp này.
 
Khả năng điều trị khỏi bệnh như thế nào ?
Điều trị tích cực như chỉ dẫn trên bạn sẽ khỏi bệnh !
 
Cuộn để xem tiếp
Gửi lời nhắn
Gửi
GIỜ LÀM VIỆC
Sáng: 8h - 12h; Chiều: 13h - 16h
Nghỉ: ngày lễ, chủ nhật, 
chiều thứ 5 & chiều thứ 7
 
Thuy Tran Otolaryngologic Clinics
Thuy Tran Otolaryngologic Clinics
Thuy Tran Le MD., PhD, Head of Clinics
Ex.Vice Director of National Hospital of Otolaryngology
Number 6 Do Quang str. Hanoi
Email: thuyent12@gmail.com
Website: https://xoang.vn
               https://taimuihongthuytran.com
Đóng
ĐĂNG KÝ KHÁM BỆNH
Bạn có thể gọi số: 024 3556 6124 - 098 368 0276
hoặc điền thông tin đăng ký khám bệnh vào form bên dưới
CHÚ Ý ĐĂNG KÝ THEO LỊCH SAU:
Sáng 8-12h, chiều 13-16h (trừ chiều thứ 5, thứ 7,
ngày chủ nhật, ngày lễ)